| Bản án số 269/2018/DS-PT ngày 23/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp
Về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi”
Nội dung vụ án:
Các nguyên đơn gồm Võ Ngọc T1, Nguyễn Thị Kim N1, Phan Thị Minh T2, Nguyễn Ngọc D1, Hồ Thị N2, Trương Thị L1, Lê Thị Hồng G, Nguyễn Thị Bé C tham gia chơi các dây hụi cho bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh X làm chủ hụi.
– Bà Võ Ngọc T1: chơi một dây hụi 1.000.000 đồng/phần x 19 phần. Bà đóng hụi sống được 9 lần tổng cộng 5.655.000 đồng thì bà X tuyên bể hụi. Quá trình bà X làm chủ hụi thì ông H2 (chồng bà X) đều biết, ông H2 cũng đi lấy tiền hụi sống của bà T1. Bà T1 yêu cầu bà X, ông H2 liên đới trả số nợ hụi còn thiếu 5.655.000 đồng.
– Bà Nguyễn Thị Kim N1: chơi dây hụi thứ nhất loại hụi 1.000.000 đồng x 15 phần, dây hụi thứ hai loại hụi 500.000 đồng/phần x 16 phần. Sau khi hốt hụi lần cuối, bể hụi thì hai bên thông nhất bà X còn thiếu nợ 9.000.000 đồng. Bà N1 yêu cầu bà X, ông H2 liên đới trả 9.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
– Bà Phan Thị Minh T2: Chơi dây hụi 1.000.000 đồng/phần x 15 phần. Tổng tiền hụi sống là 7.000.000 đồng. Bà T2 yêu cầu bà X, ông H2 liên đới trả số nợ hụi còn thiếu là 7.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
– Bà Nguyễn Ngọc D1: yêu cầu bà X, ông H2 liên đới trả số tiền nợ hụi là 6.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
– Bà Hồ Thị N2: chơi 2 dây hụi do bà X làm chủ hụi. Nay yêu cầu bà X và ông H2 liên đới trả tiền hụi còn thiếu là 20.000.000 đồng.
– Bà Trương Thị L1: chơi 4 dây hụi do bà X làm chủ hụi. Sau khi bể hụi, 2 bên thống nhất tiền nợ hụi 4 dây là 71.000.000 đồng. Sau đó bà X và ông H2 có trả được 15.700.000 đồng. Bà L1 yêu cầu bà X, ông H2 liên đới trả số nợ hụi còn thiếu là 55.300.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
– Bà Lê Thị Hồng G: chơi 2 dây hụi. Nay bà G đồng ý giảm nợ thêm 4.000.000 đồng, và chỉ yêu cầu bà X, ông H2 liên đới trả nợ hụi còn thiếu là 41.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
– Bà Nguyễn Thị Bé C: Chơi hai dây hụi, yêu cầu bà X và ông H2 liên đới trả tiền hụi sống là 9.750.000đ + 3.600.000đ =13.350.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tuyên
Chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn, buộc vợ chồng bà X, ông H2 liên đới trả cho các nguyên đơn nợ hụi, liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Sau đó, ông H2 kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm đã xét xử.
Tòa án cấp phúc thẩm nhận định:
Ông H2 cho rằng không biết bà X có sử dụng tiền hụi vào việc chi tiêu mua sắm, sinh hoạt, lo lắng kinh tế trong gia đình hay không. Ông H2 xác định nợ hụi là nợ riêng của bà X vì vậy ông H2 không đồng ý liên đới trả nợ hụi với bà X mà chỉ tự nguyện hỗ trợ bà X trả nợ theo khả năng của ông H2.
Ông H2 không có chứng cứ gì để chứng minh việc bà X làm chủ hụi là do cá nhân bà X và không liên quan gì đến ông H2. Bà X và ông H2 là vợ chồng có đăng ký kết hôn và được UBND xã T.N.Đ (huyện C, tỉnh Đồng Tháp) cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 10/8/2004, bà X tổ chức làm chủ hụi các dây hụi ngay tại quán cà phê ở nhà của vợ chồng bà X, ông H2 trong thời gian dài, ông H2 biết rõ việc bà X tổ chức và làm chủ hụi nhiều dây hụi, ông H2 có tham gia thu gom tiền hụi, tổ chức bốc thăm khui hụi dùm bà X. Bà X cũng thừa nhận có sử dụng tiền lời hụi, tiền hoa hồng hụi vào việc chi tiêu mua sắm, sinh hoạt, buôn bán, lo lắng kinh tế gia đình.
Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên:
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn H2, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm, buộc vợ chồng bà X và ông H2 liên đới trả nợ hụi. |