| “V/v Tranh chấp Hợp đồng tặng cho QSD đất”.
Nội dung vụ án:
Chồng cụ P là cụ Nguyễn Văn Thông (Chết năm 1989). Vợ chồng các cụ Thông, P có 07 con gồm: Nguyễn Văn Tứ (chết năm 2015 – vợ là Nguyễn Thị T), ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn Ngũ, chị Nguyễn Thị Kinh, anh Nguyễn Văn S, anh Nguyễn Văn S, anh Nguyễn Văn L.
Các cụ Thông, P có thửa đất thổ cư số 64, tờ bản đồ số 17, diện tích 1.448m2 tại khu 02, xã Văn B, huyện Cẩm K, tỉnh Phú Thọ. Năm 1989, cụ Thông chết không để lại di chúc, cụ P quản lý, sử dụng diện tích đất này.
Ngày 18/11/1999, UBND huyện Sông Thao cấp GCN QSDĐ cho cụ Vi Thị P. Ngày 2/9/2014, cụ P tổ chức họp gia đình để chia đất cho các con trên cơ sở ai đã làm nhà vị trí nào, thì chia cho vị trí đó. Do ông Ngũ, chị Kinh từ chối không nhận, nên đất được chia cho 04 con, gồm: Nguyễn Văn Tứ, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn L theo phần đất đã xây dựng.
Đối với anh Nguyễn Văn L khi đó đang làm thuê ở thành phố Hà Nội, nên cụ P cùng 04 người con được chia đất thống nhất gửi suất đất chia cho anh L là khoảng 200m2 vào GCNQSD đất của gia đình ông Tứ, khi nào anh L về thì ông Tứ sẽ tách trả đất cho anh L.
Khi ông Tứ xây nhà, cụ P ở cùng nhà gia đình ông Tứ. Năm 2002, cụ P sang ở cùng nhà anh T. Sau khi ông Tứ chết, nhiều lần cụ P bảo bà T tách đất trả cho anh L nhưng bà T không đồng ý tách nữa. Do mâu thuẫn nên tháng 9/2017, cụ P xây nhà ở riêng trên phần đất dự chia cho anh L.
Nay cụ P, anh L khởi kiện yêu cầu gia đình bà T tách trả cho anh L khoảng 200m2 để làm nhà ở, còn nếu không thì cụ P yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với gia đình ông Tứ bị vô hiệu.
Tại Bản án sơ thẩm quyết định:
– Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Vi Thị P và anh Nguyễn Văn L.
– Xác nhận 183m2 đất vườn, trong tổng diện tích đất 650,5m2 tại thửa số 353, tờ bản đồ 08 tại khu 02 xã Văn B, huyện Cẩm K, tỉnh Phú Thọ thuộc quyền sử dụng của anh Nguyễn Văn L. Anh Nguyễn Văn L có nghĩa vụ đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Ngày 10/12/2018, bà Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo với nội dung không
nhất trí bản án sơ thẩm.
Nhận định của Tòa án phúc thẩm:
Tại biên bản họp gia đình ngày 12/9/2014 không ghi điều kiện tặng cho
nhưng đã ghi “Riêng chú L do điều kiện sinh hoạt chưa ổn định, gia đình thống nhất khi nào chú L chuyển về quê hoặc có điều kiện làm nhà, các anh chị phải có trách nhiệm tách đất thổ cư hoặc hỗ trợ mua đất ngoài theo quy định của nhà nước”. Đây chính là điều kiện trong việc tặng cho mà các đương sự phải tuân thủ, xã Văn B là xã vùng quê, các hộ gia đình không có điều kiện khá giả, bản thân các đương sự trong vụ kiện đã có ý chia phần đất cho gia đình bà T nhiều nhất, giả sử 650,5m2 – 183m2 = 467,5m2 thì phần còn lại này của gia đình bà T vẫn là lớn nhất.
Cụ P đã làm nhà riêng trên phần đất mà cụ đề nghị được cắt để chia cho anh L là sự tự nguyện của cụ, vừa phù hợp với tình cảm mẹ con, vừa thể hiện trách nhiệm của cha mẹ đối với con, vừa phù hợp với quyền bình đẳng của những người trong cùng hàng thừa kế. Như vậy là vừa phù hợp với đạo lý của con người vừa phù hợp với pháp luật.
Tòa án phúc thẩm quyết định: |