| Bản án số 60/2019/DS-PT ngày 12/6/2019 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
Về việc “Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định về thi hành án dân sự”
Tóm tắt nội dung:
Bà V quen biết bà Trần Thị Kiều S nên năm 2012, bà V cho bà S vay tổng số tiền 4.275.000.000 đồng để đáo hạn ngân hàng, bốc hụi lấy tiền kinh doanh. Do không có khả năng trả nợ nên bà S lẩn tránh và vào ngày 31/01/2013, vợ chồng bà S, ông Phan Thành H đã chuyển nhượng nhà đất tại địa chỉ 241 đường N2, phường T8, thành phố H1, tỉnh Thừa Thiên Huế cho anh trai của ông H là ông Phan Thành Đ; đã sang tên ông Đ ngày 07/3/2013.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2015/HSST ngày 13/4/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế và Bản án hình sự phúc thẩm số 214/2015/HSPT ngày 26/8/2015 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xử phạt bà S về hai tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; buộc bà S trả bà V 4.275.000.000 đồng, đồng thời kê biên nhà đất 241 đường N2, phường T8, thành phố H1, tỉnh Thừa Thiên Huế để bảo đảm thi hành án cho các người bị hại và số nợ thực tế, hợp pháp (nếu có) của bà S đối với ông Phan Thành Đ. Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế đã tiến hành kê biên tài sản và giải quyết việc thi hành án về phần dân sự cho những người bị hại.
Ngày 31/8/2016, Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế có Công văn số 361/CTHADS-CHV hướng dẫn bà V và những người được thi hành án về quyền yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết. Bà V khởi kiện đến Tòa án yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 31/1/2013 giữa vợ chồng bà S, ông H với ông Đ vô hiệu toàn bộ; yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Phan Thành Đ số AB 380692 thửa 101-2, tờ bản đồ số 20, địa chỉ 241 Đường N2, thành phố H1; yêu cầu Tòa án xác định quyền sở hữu của bà S trong khối tài sản chung hợp nhất của vợ chồng ông H bà S, bao gồm quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ 241 Đường N2, thành phố H1 để thi hành án cho bà V theo quyết định tại Bản án hình sự phúc thẩm số 214/2015/HSPT ngày 26/8/2015 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và biên bản quyết định kê biên ngày 18/8/2016 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế.
Toà án cấp sơ thẩm tuyên:
1. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 31/1/2013 giữa vợ chồng bà Trần Thị Kiều S, ông Phan Thành H với ông Phan Thành Đ đã được công chứng, chứng thực tại Văn phòng Công chứng N là vô hiệu do giả tạo.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Ông Phan Thành Đ giao trả nhà và quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông bà Trần Thị Kiều S và Phan Thành H tại 241 Đường N2, phường T8, thành phố H1, tỉnh Thừa Thiên Huế.
2. Hủy phần thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cập nhật người sử dụng đất kế tiếp là ông Phan Thành Đ do Ủy ban nhân dân thành phố H1 ký xác nhận ngày 07/3/2013 tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 380692 ngày 06/7/2005 do Ủy ban nhân dân thành phố H1 cấp cho ông bà Phan Thành H, bà Trần Thị Kiều S.
3. Phân chia tài sản chung vợ chồng của ông Phan Thành H và bà Trần Thị Kiều S là nhà và đất tại 241 Đường N2, phường T8, thành phố H1. Ông Phan Thành H và bà Trần Thị Kiều S mỗi người có quyền sở hữu 50% khối tài sản chung của vợ chồng. Phần quyền tài sản của bà Trần Thị Kiều S được thi hành án theo bản án hình sự sơ thẩm số 10/2015/HSST ngày 13/4/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế và Bản án hình sự phúc thẩm số 214/2015/HSPT ngày 26/8/2015 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
Ngày 18/10/2018 và ngày 31/10/2018, vợ chồng ông Đ, bà D và ông H, bà S có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Toà án cấp phúc thẩm nhận định:
Tòa án cấp phúc thẩm thấy Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xác định quan hệ tranh chấp cần giải quyết trong vụ án là “Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế thi hành (bản án hình sự phúc thẩm số 214/2015/HSPT ngày 26/8/2015 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng) theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự” là đúng quan hệ tranh chấp; đồng thời Tòa án tỉnh Thừa Thiên Huế tuyên hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập ngày 31/01/2013 giữa vợ chồng bà S, ông H với ông Đ đối với nhà và đất tại 241 Đường N2, thành phố H1; hủy phần xác nhận biến động tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 380692 ngày 06/7/2005 của Ủy ban nhân dân thành phố H1 để khôi phục quyền và nghĩa vụ của bà S, ông H (tức là chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V để kê biên nhà đất tại 241 Đường N2 nhằm bảo đảm thi hành án về tài sản theo quyết định của Bản án hình sự phúc thẩm số 214/2015/HSPT ngày 26/8/2015 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng) là có cơ sở, đúng pháp luật.
Kháng cáo của vợ chồng ông D và vợ chồng ông H là không có cơ sở vì không phù hợp với quan hệ tranh chấp trong vụ án này được xác định từ nội dung Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành số 214/2015/HSPT ngày 26/8/2015 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
Đối với yêu cầu của bà V, yêu cầu phân chia tài sản chung vợ chồng giữa bà S với ông H đối với nhà đất tại 241 Đường N2, thành phố H1 thì Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Tuy bà S cho rằng nhà đất hoàn toàn do ông H tạo lập, bà S không có đóng góp tạo lập tài sản này; nhưng xét khi lập hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại 241 Đường N2 thì bà S không có văn bản xác nhận là tài sản do ông H tạo lập riêng nên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại 241 Đường N2 đứng tên bà S và ông H. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 29, 33 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 213 Bộ luật dân sự chia cho bà S, ông H mỗi người 50% giá trị tài sản là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 214/2015/HSPT ngày 26/8/2015 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng (bản án có hiệu lực thi hành, không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm) đã xác định việc vợ chồng bà S, ông H ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 31/1/2013 chuyển nhượng nhà đất 241 Đường N2 cho vợ chồng ông Đ là hành vi tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định Hợp đồng chuyển nhượng đất này vô hiệu do giả tạo theo quy định tại Điều 129 và việc giải quyết hậu quả vô hiệu của hợp đồng theo quy định tại Điều 137 Bộ luật dân sự 2005 (các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận) là đúng pháp luật. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án đến nay thì vợ chồng ông Đ chưa có yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng bà S, ông H hoàn trả tiền (hoặc là tiền bán nhà hoặc là tiền vay giữa hai bên) mà trước sau chỉ cho rằng Ông Bà nhận chuyển nhượng nhà đất 241 của vợ chồng bà S, ông H là hợp pháp, đã được chỉnh lý sang tên nên vợ chồng ông Đ có quyền sở hữu hợp pháp nhà đất 241 Đường N2; hơn nữa, tại Bản án hình sự phúc thẩm số 214/2015/HSPT ngày 26/8/2015 (bản án có hiệu lực thi hành, không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm), Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cũng đã quyết định kê biên 03 khối tài sản (trong đó có nhà đất 241 Đường N2) của vợ chồng ông H, bà S để “…đảm bảo thi hành án cho các người bị hại và số nợ thực tế, hợp pháp (nếu có) của bị cáo với ông Phan Thành Đ…”…
Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của vợ chồng ông Phan Thành H và vợ chồng ông Phan Thành Đ.
Toà án cấp phúc thẩm quyết định:
Không chấp nhận kháng cáo của vợ chồng ông Phan Thành H và vợ chồng ông Phan Thành Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ghi nhận sự tự nguyện của vợ chồng bà V, ông B về việc thanh toán cho ông Nguyễn Thành N1 (người thuê nhà 241 Đường N2) tiền tu bổ nhà 241 Đường N2. |