| Quyết định Kinh doanh thương mại phúc thẩm số 01/2022/QĐPT-KDTM ngày 29 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Về việc: “Yêu cầu hủy bỏ Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông”
Tóm tắt nội dung việc dân sự:
Công ty Cổ phần phát triển T (sau đây gọi tắt là Công ty T) được Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Thái Bình cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu ngày 08/8/2021 với số vốn điều lệ của Công ty là 2.500.000.000 đồng, gồm 05 cổ đông sáng lập, trong đó: Bà Nguyễn Thị Ngọc A nắm giữ 95.000 cổ phần, tương đướng 38% vốn điều lệ; ông Nguyễn Văn T nắm giữ 75.000 cổ phần, tương đương 30% vốn điều lệ; bà Trịnh Thị N nắm giữ 25.000 cổ phần, tương đướng 10% vốn điều lệ; bà Đặng Thị T nắm giữ 25.000 cổ phần, tương đương 10% vốn điều lệ.
Ngày 22/4/2015, ông Nguyễn Văn T được đăng ký là Giám đốc – Người đại diện theo pháp luật của Công ty. Trong thời gian này, bà H chuyển nhượng toàn bộ 11% cổ phần cho bà X, ông T chuyển nhượng 2% cổ phần cho ông C. Ông T, bà X nắm giữ 50% vốn điều lệ của ông ty.
Tháng 4/2016, ông T, bà X phát hiện ông C, bà Ngọc Anh tự ý lập hồ sơ thay đổi đăng ký kinh doanh 02 lần cho công ty, trong đó: lần thứ 06 là thay đổi người đại diện theo phâp luật từ ông Nguyễn Văn T sang bà Nguyễn Thị Ngọc Anh với lý do ông T bị thần kinh; lần thứ 7 là đăng ký tăng vốn điều lệ của Công ty từ 5.000.000.000 đồng lên 16.000.000.000 đồng mà chỉ có bà Nguyễn Thị Ngọc Anh được mua thêm nên tỷ lệ sở hữu cổ phần của ông T, bà X còn lại rất nhỏ.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 04/2017/HCST ngày 21/7/2017 của TAND tỉnh Thái Bình và Bản án số 117/2018/HC-PT ngày 09/4/2018 của TAND cấp cao tại Hà Nội đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, bà X tuyên “Hủy giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đăng ký thay đổi lần thứ 7 của ông ty T.
Ngày 28/11/2018, ông T và bà X đã triệu tập Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) lần 3 (sau triệu tập lần 1 ngày 18/6/2018; lần 2 ngày 12/10/2018 không đủ điều kiện tiến hành đại hội theo quy định của điều lệ) để bầu Hội đồng quản trị (HĐQT) nhưng cuộc họp không thông qua được bất kỳ nội dung nào do nhóm cổ đông đều có ý kiến trái ngược nhau (mỗi nhóm sở hữu 50% vốn điều lệ).
Các ngày 06/8/2019, 31/8/2019 và 19/9/2019, ông T, bà X nhận được thông báo mới họp ĐHĐCĐ bất thường nhưng vì thông báo trên không đúng quy định pháp luật nên ông T, bà X không tham gia dự họp.
Mặc dù vậy, ông C và bà Ngọc A vẫn tiếp tục họp và ban hành Nghị quyết 01/2019/NQQ-ĐHĐCĐBT ngày 01/10/2019. Vì lẽ đó, ông T, bà X đã nộp Đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố hủy bỏ Nghị quyết trên với lý do: Trình tự thủ tục triệu tập họp và ra quyết định không theo đúng Luật doanh nghiệp, người triệu tập họp không phải là HĐQT hợp pháp; tỷ lệ sở hữu cổ phần của các cổ đông trong danh sách cổ đông có quyền dự họp không đúng với thực tế và trái với giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đăng ký thay đổi lần thứ 8 và thứ 9.
Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm quyết định:
Tại Quyết định số 01/2021/QĐST-KDTM ngày 22/4/2021 của TAND huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu hủy Nghị quyết số 01/2019/NQ-ĐHĐCĐ ngày 01/10/2019 của Đại hội đồng cổ đông Công ty cổ phần phát triển T của ông Nguyễn Văn T, bà Lại Thị X.
Ngày 04/5/2021, ông Nguyễn Văn T và bà Lại Thị X kháng cáo toàn bộ Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2021/QĐST-KDTM ngày 22/4/2021 của TAND huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm nhận định:
Xét nội dung cuộc họp thì thấy:
Về việc tăng vốn điều lệ công ty: Trong ngày 09/11/2014; công ty T ban hành Biên bản họp cổ đông công ty số 12, 13 và 14 về việc phát hành cổ phần để tăng vốn điều lệ. Đối với biên bản số 13 có 04 trang thì từ trang thứ nhất đến trang thứ ba theo kết luận giám định số 12/KLGĐ-PC54 ngày 09/6/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận đã bị thay thế. Đối với trang 4 các cổ đông đều ký nhận nên cần phải khẳng định các cổ đông gồm ông T, bà X, ông C, bà Ngọc A đều biết được chủ trương tăng vốn điều lệ và có chủ trương góp vốn 11 tỷ đồng nhưng không thể đồng nhất giữa việc các cổ đông ký nhận về việc tăng vốn điều lệ với có cuộc họp Đại hội đồng cổ đông ngày 09/11/2014 là một.
Về thủ tục chào bán cổ phần: Việc Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Quyết định giải quyết số 01/2020/QĐPT-KDTM ngày 09/09/2020 của TAND tỉnh Thái Bình mà không xem xét đến việc công ty T tổ chức họp cổ đông biểu quyết tăng vốn từ 5 tỷ đồng lên 16 tỷ đồng và thủ tục chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu vi phạm Luật doanh nghiệp là không hợp pháp.
Đến thời điểm công ty T tiến hành cuộc họp ngày 01/10/2019 trong khi vắng mặt số cổ đông sở hữu 50% cổ phần phổ thông có quyền biểu quyết trong cuộc họp là ông T, bà X là vi phạm quy định tại Điều 144 Luật Doanh nghiệp. Do đó, việc công ty T ban hành Nghị quyết số 01/2019/NQ-ĐHĐCĐ ngày 01/10/2019 của Đại hội đồng cổ đông Công ty cổ phần phát triển T để bầu Hội đồng quản trị nhiệm kỳ 2018 – 2023 là không đúng pháp luật nên cần chấp nhận kháng cáo của ông T, bà X, sửa quyết định sơ thẩm của TAND huyện Kiến Xương theo hướng chấp nhận yêu cầu của ông T, bà X, hủy Nghị quyết 01/2019/NQ-ĐHĐCĐ ngày 01/10/2019 của Đại hội đồng cổ đông Công ty cổ phần phát triển T.
Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 375 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T và bà Lại Thị X. Sửa Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2021/QĐST-KDTM ngày 22/4/2021 của TAND huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Căn cứ các Điều 114, 136, 139, 141, 144, 147 Luật Doanh nghiệp. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T và bà Lại Thị X, hủy Nghị quyết số 01/2019/NQ-ĐHĐCĐ ngày 01/10/2019 của Đại hội đồng cổ đông Công ty cổ phần phát triển T. |