| Bản án số: 03/2018/KDTM-PT Ngày: 31-01-2018 Tòa án nhân dân cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh.
V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng bảo lãnh.
Tóm tắt nội dung vụ án:
Công ty P (Nguyễn đơn) và Công ty Sh (Bị đơn) có trụ sở chính tại Korea. đã ký 02 hợp đồng mua bán hàng hóa, cụ thể như sau: Hợp đồng thứ nhất, số 040/NĐ-2013, ký ngày 02/12/2013. Nội dung thỏa thuận việc Chi nhánh S – Công ty P bán nhựa đường cho Công ty Sh để phục vụ thi công gói thầu số 6 dự án đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây.
Ngày 10/12/2013, Công ty H có văn bản số HSSHLD P6-993, ngày 23/4/2014, Công ty H có văn bản số HSSHLD P6-1172, cam kết bảo lãnh thanh toán cho Công ty Sh đối với hợp đồng trên.
Hợp đồng thứ hai, số 063/NĐ-2014, ký ngày 01/10/2014. Nội dung thỏa thuận việc Chi nhánh S – Công ty P bán nhựa đường cho Công ty Sh để thi công gói thầu số 5A, dự án đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây. Ngày 10/11/2014, Công ty PE (Bị đơn), có trụ sở chính tại Korea. phát hành thư bảo lãnh số P5-PEA-2014- 001 bảo lãnh thanh toán thay cho Công ty Sh đối với gói thầu số 5A trong trường hợp Công ty Sh chậm thanh toán hoặc không thanh toán cho Công ty P. Thực hiện các hợp đồng trên, Công ty P đã giao hàng hóa đầy đủ, đúng tiến độ thời gian và chất lượng, đã xuất đủ hóa đơn theo quy định. Tuy nhiên, bên mua Công ty Sh đã vi phạm thời hạn thanh toán. Sau đó Công ty P khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc Công ty Sh trả số tiền nợ gốc là 38.135.426.300đ và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tính đến ngày 20/7/2017 là 16.932.850.990đ, tổng cộng 55.068.277.290đ. Buộc Công ty H thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ thay cho Công ty Sh và Buộc Công ty PE thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ thay cho Công ty Sh.
Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:
– Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty P về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty P về việc tranh chấp hợp đồng bảo lãnh. Buộc Công ty Sh trả cho Công ty P số tiền 47.468.277.290đ. Buộc Công ty H trả cho Công ty P số tiền là 7.600.000.000đ.
Tòa án cấp cao nhận định:
– Công ty H cho rằng theo biên bản cuộc họp ngày 14/3/2015, các bên đã thống nhất Công ty H thanh toán trực tiếp cho Công ty P số tiền 7.600.000.000đ, số tiền còn lại Công ty Sh trả tiếp cho Công ty P bằng máy móc thiết bị của Công ty Sh, hợp đồng bảo lãnh của Công ty H sẽ chấp dứt. Còn Công ty PE cho rằng không phát hành thư bảo lãnh cam kết thanh toán toàn bộ nợ thay cho Công ty Sh nên không có trách nhiệm khoản nợ của Công ty Sh đối với Công ty P. Lập luận của Công ty H và Công ty PE không phù hợp với chứng cứ có tại hồ sơ nên không được chấp nhận bởi các lẽ sau: Trước hết khẳng định Công ty H và Công ty PE là hai nhà thầu chính thi công đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây, Công ty Sh là nhầu thầu phụ do Công ty H và Công ty PE chỉ định để thi công gói thấu số 6 cho Công ty H và gói thầu số 5A cho Công ty PE, Công ty P là doanh nghiệp được Công ty H và Công ty PE chọn để cung cấp nhựa đường cho Công ty Sh thi công các gói thầu trên. Công ty H và Công ty PE là người đôn đốc, nhắc nhở, yêu cầu Công ty P kịp thời cung cấp nguyên liệu để công trình kịp tiến độ và cam kết bảo lãnh thanh toán.
– Ngày 10/12/2013, Công ty H phát hành văn bản số HSSHLD P6-993, cam kết bảo lãnh thanh toán tiền cung ứng Bitum cho Công ty Sh. Ngày 21/4/2014, Công ty P, Công ty Sh và Công ty H ký Phụ lục Hợp đồng mua bán nhựa đường số 040.3/NĐ-2014, nâng hạn mức công nợ cho Công ty Sh từ 15.000.000.000đ lên 40.000.000.000đ. Ngày 23/4/2014, Công ty H tiếp tục phát hành văn bản số HSSHLD P6-1172 bảo lãnh thanh toán cho Công ty Sh. Biên bản làm việc ngày 14/3/2015, bàn về giải quyết công nợ của Công ty Sh, các bên (Công ty P, Công ty Sh và Công ty H) đưa ra quan điểm giải quyết công việc, đây là ý kiến riêng biệt của mỗi bên, việc Công ty H đề xuất hủy bỏ hợp đồng bảo lãnh đây cũng chỉ là yêu cầu của Công ty H, các bên cũng không có ý kiến thống nhất nội dung này của Công ty H. Ngày 30/3/2015, Công ty P có văn bản yêu cầu Công ty H cho tiến hành thanh toán số tiền 7.600.000.000đ, đây cũng là công văn nhắc lại đề xuất của Công ty P yêu cầu Công ty H trả trước 7.600.000.000đ. Nội dung công văn trên không thể hiện Công ty P đồng ý Công ty H chấm dứt nghĩa vụ bảo lãnh. Do đó, việc Công ty H căn cứ biên bản cuộc họp ngày 14/3/2015 để cho rằng mình không có nghĩa vụ đối với khoản tiền nợ thanh toán của Công ty Sh với Công ty P là không đúng.
Từ những phân tích như trên, đủ căn cứ buộc Công ty H phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh để thanh toán tiền vốn gốc và tiền lãi mà Công ty Sh còn thiếu chưa thanh toán cho Công ty P số tiền là 40.508.714.547đ. Trong đó, tiền nợ gốc là 26.477.443.964đ và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 20/7/2017 là 14.031.270.583đ.
– Về trách nhiệm bảo lãnh của Công ty PE: Công ty PE cho rằng không phát hành chứng thư bảo lãnh nên không chịu trách nhiệm khoản nợ của Công ty Sh đối với Công ty P, lập luận như trên là chối bỏ trách nhiệm với tư cách là nhà thầu chính và không phù hợp với chứng cứ có tại hồ sơ.
Tòa án cấp cao tuyên:
– Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty P về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty P về trách nhiệm của người bảo lãnh đối với Công ty H và Công ty PE: Buộc Công ty H trả cho Công ty P số tiền là 40.508.714.547đ; Buộc Công ty PE trả cho Công ty P số tiền là 14.559.562.743đ. |