| Quyết định giám đốc thẩm số 29/2009/DS-GĐT_HĐTP ngày 09/9/2009 của Tòa án nhân dân tối cao
Vụ án: “Đòi bồi thường thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp”
Nội dung vụ án:
Nhãn hiệu thuốc tránh thai khẩn cấp POSTINOR của NĐ_Công ty GERNAI đã được đăng ký quốc tế từ năm 1978 theo Thỏa ước Madrid và sản phẩm đã được giới thiệu tại thị trường Việt Nam từ năm 1992; đến năm 1995 thì được Cục quản lý Dược Bộ Y tế cấp Giấy phép đăng ký. Đầu năm 2003, NĐ_Công ty GERNAI đã thành lập Văn phòng đại diện tại Việt Nam và chính thức đăng ký nhãn hiệu thuốc POSTINOR, được Cục sở hữu công nghiệp Bộ Khoa học Công nghệ Việt Nam xác nhận tên thuốc POSTINOR đã đăng ký quốc tế theo Thỏa ước Madrid và được gia hạn lại từ năm 1998.
Tháng 4/2004, NĐ_Công ty GERNAI phát hiện BĐ_Công ty Thành Vinh liên kết với LQ_Công ty Bình Đạt sản xuất, lưu hành sản phẩm thuốc tránh thai nhãn hiệu POSINIGHT có kiểu dáng mẫu mã bao bì và cách đóng gói vỉ thuốc tương tự như nhãn hiệu thuốc tránh thai POSTINOR.
BĐ_Công ty Thành Vinh đã liên kết với LQ_Công ty Bình Đạt sản xuất thuốc POSINIGHT; mẫu mã, kiểu dáng bao bì, vỉ thuốc hoàn toàn do LQ_Công ty Bình Đạt thiết kế.
Sau khi NĐ_Công ty GERNAI có ý kiến phản đối về bao bì của thuốc POSINIGHT thì LQ_Công ty Bình Đạt đã chủ động thay đổi mẫu mã bao bì mới cho sản phẩm.
Cấp sơ thẩm tuyên:
– Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn về việc đòi bồi thường thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh của BĐ_Công ty Thành Vinh và LQ_Công ty Bình Đạt.
– Buộc BĐ_Công ty Thành Vinh và LQ_Công ty Bình Đạt cùng liên đới chịu trách nhiệm bồi thường cho NĐ_Công ty GERNAI số tiền đồng Việt Nam tương đương 46.969,68 đô-la Mỹ tại thời điểm thi hành án cùng với việc bồi hoàn chi phí cho việc thu thập thông tin cho nguyên đơn là 400.000 đ.
– Buộc BĐ_Công ty Thành Vinh và LQ_Công ty Bình Đạt phải chấm dứt hành vi sử dụng trái phép đối với nhãn hiệu hàng hóa mà nguyên đơn đã đăng ký bảo hộ số 66967 theo Quyết định số A10520/QĐ-ĐK ngày 30/9/2005 do Cục Sở hữu trí tuệ cấp cho nguyên đơn.
– Buộc BĐ_Công ty Thành Vinh và LQ_Công ty Bình Đạt phải có trách nhiệm thu hồi và tiêu hủy toàn bộ vỏ bao bì đã sử dụng có hình ảnh hoa hồng màu hồng và số 2 màu hồng mà nguyên đơn đã được bảo hộ nêu trên, đồng thời thông báo về việc thu hồi này trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Cấp Phúc thẩm tuyên:
– Không chấp nhận yêu cầu của NĐ_Công ty GERNAI đòi BĐ_Công ty Thành Vinh và LQ_Công ty Bình Đạt phải bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do cạnh tranh không lành mạnh số tiền 85.348,60 đô-la Mỹ, chi phí luật sư 9.496,59 đô-la Mỹ và 400.000đ chi phí khác.
– NĐ_Công ty GERNAI phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do không được chấp nhận yêu cầu là 28.514.677đ; BĐ_Công ty Thành Vinh, LQ_Công ty Bình Đạt không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Tại Quyết định kháng nghị số 100/KN-DS ngày 31.3/2009, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 316/2006/DS-PT ngày 04/8/2006.
Cấp Giám đốc thẩm nhận định:
Theo quy định tại Điều 781 BLDS 1995 thì các đối tượng sở hữu công nghiệp được Nhà nước bảo hộ gồm sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa và các đối tượng khác do pháp luật quy định. Theo quy định tại Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 của Chính phủ thì quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp là các đối tượng sở hữu công nghiệp được Nhà nước bảo hộ.
Như vậy, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh là một trong “các đối tượng khác nhau” thuộc sở hữu công nghiệp được Nhà nước bảo hộ. Trong vụ án này, nguyên đơn cho rằng do các bị đơn đã có hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn.
Nguyên đơn yêu cầu các bị đơn bồi thường thiệt hại là có căn cứ theo quy định tại Điều 25 và Điều 27 Nghị định số 54/2000/NĐ-CP. Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 117 Luật cạnh tranh và Điều 6 Nghị định số 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh. Tòa án sơ thẩm thụ lý giải quyết yêu cầu của nguyên đơn là đúng thẩm quyền.
Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào Nghị định số 63/NĐ-CP ngày 24/10/1996 của Chính phủ quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp để giải quyết vụ án là áp dụng không đúng pháp luật. Vì ngay tại Điều 1 của Nghị định này đã quy định: “Các quy định của Nghị định này chỉ áp dụng đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa và không áp dụng đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp khác”.
Theo Kết luận số 1465/TTKN ngày 08/8/2005 của Cục Sở hữu trí tuệ Bộ khoa học và Công nghệ (là cơ quan giám định) thì các bị đơn đã có hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp đối với nguyên đơn. Hơn nữa, Việt Nam cũng là thành viên của Thỏa ước Madrid, nên phải có trách nhiệm bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với các loại hàng hòa đã được đăng ký theo thỏa ước này, trong đó có sản phẩm thuốc tránh thai POSTINOR của NĐ_Công ty GERNAI, đã được đăng ký tại Phòng đăng ký Quốc tế ngày 05/11/1998 và Việt Nam là một trong 28 quốc gia được chỉ dẫn. Do đó, yêu cầu của NĐ_Công ty GERNAI đòi BĐ_Công ty Thành Vinh và LQ_Công ty Bình Đạt phải bồi thường thiệt hại là có căn cứ.
– Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện NĐ_Công ty GERNAI cho rằng số lượng thuốc POSTINOR không tiêu thụ được do bị BĐ_Công ty Thành Vinh và LQ_Công ty Bình Đạt cạnh tranh không lành mạnh là 1.224.605 hộp; với mức lợi nhuận là 30%, nếu tính theo đơn giá thuốc nhập khẩu năm 2002 là 0,4 đô-la Mỹ/hộp thì khoản lợi nhuận mà nguyên đơn bị thiệt hai là 146.952,6 đô-la Mỹ, tuy nhiên đây chỉ là kết quả điều tra độc lập trên thị trường về tất cả các loại thuốc tránh thai trong năm 2002-2003 và kết quả này chưa được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thừa nhận, nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận các số liệu do nguyên đơn đưa ra là có căn cứ. Nhưng tòa án cấp sơ thẩm coi số lượng thuốc POSINIGHT mà các bị đơn đã tiêu thụ chính bằng số lượng POSTINOR mà nguyên đơn lẽ ra có thể tiêu thụ được và xác định mức thiệt hại của NĐ_Công ty GERNAI bằng 30% là không có căn cứ.
Tòa án cấp phúc thẩm lại cho rằng pháp luật chưa có quy định về bồi thường thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nên đã bác yêu cầu của các nguyên đơn là không đúng.
Cấp Giám đốc thẩm tuyên:
– Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 316/2006/DSPT ngày 04/8/2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố HCM và hủy bản án dân sự sơ thẩm số 275/2006/DSST ngày 29/3/2006 của Tòa án nhân dân thành phố HCM.
– Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố HCM giải quyết sơ thẩm lại theo đúng qui định của pháp luật. |