
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét thấy quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng về thẩm quyền giải quyết vụ án cũng như trong việc thu thập chứng cứ chưa đầy đủ; nhiều chứng cứ chưa được chứng minh làm rõ dẫn đến việc ra quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án cụ thể như sau:
[1] Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Tại khoản 4, Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Thẩm quyền của cấp Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp có xem xét việc hủy quyết định cá biệt quy định tại khoản 1 Điều này được xác định theo quy định tương ứng của Luật tố tụng hành chính về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh.”. Tại khoản 4, Điều 32 Luật Tố tụng hành chính quy định về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh: “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án.”.
Trong vụ án, các nguyên đơn tranh chấp với bị đơn quyền sử dụng đất thuộc thửa 167, tờ bản đồ số 21 do anh Châu Quốc P đứng tên GCNQSDĐ; các nguyên đơn có yêu cầu hủy GCNQSDĐ do anh P đứng tên tại thửa đất và tờ bản đồ này. Căn cứ vào quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật Tố tụng hành chính như đã viện dẫn trên thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Tòa án nhân dân thành phố H giải quyết là không đúng thẩm quyền, vi phạm nghiêm trọng về thẩm quyền giải quyết vụ án.
[2] Về nội dung tranh chấp
[2.1] Về nguồn gốc thửa đất số 167 tờ bản đồ số 21 do ông Châu Khắc P1 đứng tên GCNQSDĐ:
Tại GCNQSDĐ số W 390003 ngày 29/01/2003 (được cấp lần đầu) do UBND huyện H, tỉnh T đã cấp cho Hộ ông Châu Khắc P1 được quyền sử dụng các thửa đất tại tờ bản đồ số 21 gồm: thửa số 180 có 03 diện tích 509m2 , 300m2 , 509m2 ; thửa số 167 diện tích 745m2 ; đất tọa lạc tại xã A, huyện H, tỉnh T.
Tại Văn bản số 821/UBND-HC ngày 16/6/2020 của UBND thị xã H trả lời TAND huyện có nội dung: “Theo hồ sơ địa chính lưu trữ, vào năm 1993 và năm 2000 không có hồ sơ cấp giấy chứng nhận cho hộ ông Châu Khắc P1. Việc cấp GCNQSDĐ (lần đầu) cho hộ ông Châu Khắc P1 là vào năm 2003, thời điểm cấp giấy không phát sinh tranh chấp nên UBND xã A đã xác lập hồ sơ đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận cho hộ ông Châu Khắc P1, trên cơ sở đó cơ quan chuyên môn tham mưu UBND huyện H (nay là thị xã H) cấp giấy chứng nhận cho hộ ông Châu Khắc P1 theo quy định.”
Ông Châu Khắc P1 sinh 1956 (chết 24/01/2013) không để lại di chúc. Tại Văn bản thỏa thuận phân chia di sản ngày 03/5/2016 tại Văn phòng công chứng Q, tỉnh T, bà Cao Thị Đ1 (vợ ông P1) cùng 02 người con là Châu Quốc P và Cao Thị Trúc P2 phân chia nhiều khối tài sản là di sản do ông P1 để lại, trong đó anh Châu Khắc P được hưởng thửa đất số 167 diện tích 745m2 . Tại GCNQSDĐ số CD 228324 (không ngày, tháng, năm 2016) do UBND huyện H, tỉnh T đã cấp cho anh Châu Khắc P được quyền sử dụng thửa đất số 167, tờ bản đồ số 21; diện tích 745.0m2 đất (nuôi trồng thủy sản), đây cũng chính là diện tích đất các đương sự trong vụ án có tranh chấp.
Về hồ sơ cấp GCNQSDĐ của ông Châu Khắc P1:
Theo Đơn xin đăng ký QSDĐ đề ngày 05/8/2002 của ông Châu Khắc P1 kê khai nguồn gốc các thửa đất trên: “Thỏa thuận sang nhượng của Ban Tổ chức Tỉnh ủy 1986; mua ông Mai Công T1 năm 1986.”. Tuy nhiên, tại Tờ khai xác định mốc thời gian sử dụng đất ngày 15/01/2003 ông P1 lại kê khai nguồn gốc “Đất sang nhượng của bà M2, ông T1”.
Về nguồn gốc đất tranh chấp theo lời trình bày của anh Châu Quốc P:
Quá trình giải quyết tại Tòa án, anh Châu Quốc P lại trình bày nguồn gốc đất tranh chấp là của cha mẹ anh mua của ông Nguyễn Ngọc T2, còn phần đất cha anh mua của ông Mai Công T1 và bà Nguyễn Thị M2 là phần đất khác, không dính phần đất tranh chấp này.
Theo “Giấy nhượng quyền sở hữu đất đai thổ cư” ngày 28/6/1991, có xác nhận của UBND xã thể hiện ông Nguyễn Ngọc T2 (sinh năm 1956, thường trú tại Khóm 3, thị xã S, chứng minh nhân dân số 340001239 do Công an tỉnh T cấp ngày 03/01/1978) “có một mảnh đất thổ cư tại ấp An Lợi, xã A, Do Ban Chỉ huy Thanh niên xung phong tỉnh nhượng lại ngày 30/4/1990”. Ông T2 chuyển nhượng cho vợ chồng ông Châu Khắc P1 “khoảng đất chiều ngang 20m, dài 44m. Tổng diện tích đất là 880m2…”.
Tại Bản khai ngày 15/5/2020, ông Nguyễn Ngọc T2 (sinh 1955, địa chỉ Khu phố 2, thành phố S trình bày từ trước đến nay ông không có mua bán đất và không có đất tại H. Theo Văn bản số 282/CAP ngày 15/5/2020 của Công an Phường 3, thành phố H trả lời TAND huyện có nội dung: Qua rà soát từ trước đến nay không có nhân khẩu nào tên Nguyễn Ngọc T2, sinh 1956 hiện đang sinh sống, đăng ký thường trú hoặc tạm trú tại khu vực khóm 2, Phường 3, thành phố S, tỉnh T.
Hồ sơ vụ án không thể hiện có giấy tờ gì chứng minh ông Nguyễn Ngọc T2 nhận chuyển nhượng phần đất tranh chấp từ Ban Chỉ huy Thanh niên xung phong tỉnh nhượng lại ngày 30/4/1990.
Xét thấy hồ sơ cấp quyền sử dụng đất của ông Châu Khắc P1 khi kê khai, đăng ký về nguồn gốc đất có nhiều mâu thuẫn như trên đã nêu và mâu thuẫn chính lời trình bày của anh Châu Quốc P, nhưng chưa được Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chứng minh làm rõ.
[2.2] Về việc quản lý, đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất tranh chấp:
Quá trình giải quyết vụ án bên nguyên đơn trình bày: năm 1979-1980, ông Mai Công T1 là chủ tịch UBND xã và ông Châu Khắc P1 (là cha anh P) là quyền Trưởng Công an xã dùng quyền lực chiếm đất, đến năm 1986-1987 ông T1 giao lại đất cho ông P1. Tại Văn bản số 269/TA-DS ngày 07/7/2021 của TAND thành phố H có hỏi UBND thành phố H nhiều nội dung, trong đó có nội dung yêu cầu cung cấp thông tin về người đầu tiên đăng ký đất tranh chấp vào sổ mục kê hay sổ địa chính; tuy nhiên Công văn số 2850/UBND-HC ngày 07/10/2021 của UBND trả lời các nội dung khác, không có trả lời nội dung về việc người đăng ký sổ mục kê hay sổ địa chính mà không nêu lý do. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa làm rõ: từ năm 1975 đến thời điểm năm 1979-1980 cũng như từ năm 1979-1980 đến thời điểm anh P trình bày năm 1991 nhận chuyển nhượng của ông T2 thì ai là người trực tiếp quản lý, đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất tranh chấp là chưa thu thập chứng cứ đầy đủ để giải quyết vụ án.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bên nguyên đơn trong khi nhiều chứng cứ chưa được chứng minh làm rõ là chưa có căn cứ vững chắc; chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thanh phố Hồ Chí Minh, hủy cả hai Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm và giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh T giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm theo thẩm quyền.
[Nguồn: Quyết định GĐT số: 145/2023/DS-GĐT ngày 07/8/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
Xem file đính kèm toàn văn QĐ số: 145/2023/DS-GĐT