| Bản án 750/2023/KDTM-PT ngày 18/07/2023 về tranh chấp hợp đồng dịch vụ kinh doanh bất động sản của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh
Nội dung: Ngày 13/02/2017, Công ty Cổ phần V (gọi tắt là “Công ty V”) và Công ty TNHH H (gọi tắt là “Công ty H”) đã cùng ký kết Hợp đồng dịch vụ tiếp thị và phân phối độc quyền số 01/2017/HĐ-TT&PP của Dự án Chung cư Hoa Phượng tại địa chỉ số 34/1A Quốc lộ 1A, Phường Thới An, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh.
Công ty H đồng ý giao cho Công ty V thực hiện việc tiếp thị và phân phối độc quyền sản phẩm căn hộ (gồm căn hộ nhà ở xã hội với tổng diện tích sàn thông thủy là 27.092 m2 và căn hộ thương mại với diện tích sàn thông thủy là 6.272,52 m2) thuộc dự án căn hộ nhà ở xã hội Chung cư Hoa Phượng
Về tiền đặt cọc: Để đảm bảo thực hiện Hợp đồng, Công ty V đặt cọc cho Công ty H số tiền đặt cọc là 10.000.000.000 đồng (mười tỷ đồng)
Khi giao dịch thành công (khi khách hàng do Bên B giới thiệu ký kết hợp đồng mua bán/ cho thuê căn hộ – Hợp đồng đặt cọc, Hợp đồng mua bán/ cho thuê căn hộ – với Công ty H và thanh toán đủ 20% trên giá trị căn hộ) thì Công ty H sẽ hoàn lại tiền đặt cọc cho Công ty V tương ứng với diện tích sàn căn hộ nhà ở xã hội đã giao dịch thành công đó.
Khi Công ty V hoàn thành 80% diện tích sàn căn hộ nhà ở xã hội thì Công ty H có trách nhiệm hoàn toàn bộ số tiền mà Công ty V đã đặt cọc.
Về phí dịch vụ: Công ty H có trách nhiệm thanh toán phí cho Công ty V theo mức phí như sau: Giá bán – Giá gốc. Trong đó:
Giá bán là giá do Công ty V quyết định theo quy định của cơ quan nhà nước và được ghi trong hợp đồng mua bán (giá bán này Công ty H cam kết bảo đảm giá bán ra thị trường sẽ được cơ quan nhà nước phê duyệt là 14,500,000 đồng/m2).
Giá gốc: là giá căn hộ được xác định là 13,380,000 đồng/ m2 x Diện tích thương phẩm.
Sau khi ký hợp đồng, Công ty V đã thực hiện nghiêm chỉnh nội dung của hợp đồng, bao gồm:
– Thực hiện thanh toán đầy đủ tiền đặt cọc cho Công ty H theo đúng tiến độ đã thống nhất trong hợp đồng là 10,000,000,000 đồng (mười tỷ đồng)
– Thực hiện dịch vụ tiếp thị và phân phối độc quyền Dự án Chung cư Hoa Phượng đạt tỷ lệ 100 % số lượng căn hộ đã giao dịch thành công.
Đề nghị Tòa án buộc Công ty TNHH H hoàn trả cho Công ty V tổng số tiền tạm tính đến ngày vụ án được đưa ra xét xử (17/8/2022) là: 16,695,591,101 đồng,
Công ty TNHH H không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện, cũng như Đơn khởi kiện bổ sung của Công ty Cổ phần V vì Công ty Cổ phần V đã vi phạm hợp đồng đã ký kết với Công ty TNHH H. Công ty Cổ phần V đã vi phạm việc độc quyền trong phân phối sản phẩm và thu cao hơn số tiền quy định, có sự chênh lệch trong hợp đồng đã ký kết.
Tòa án sơ thẩm tuyên:
1./ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần V.
Buộc Công ty TNHH H phải thanh toán cho Công ty Cổ phần V số tiền phí dịch vụ tiếp thị và phân phối còn lại là 4.636.715.236 đồng và tiền lãi chậm thanh toán đối với tiền phí tiếp thị và phân phối, tính từ ngày 28/12/2018 đến ngày 17/08/2022 là 3.078.778.917 đồng, tổng cộng là 7.715.494.153 đồng
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần V về việc yêu cầu Công ty TNHH H phải hoàn trả lại số tiền đặt cọc 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng) và tiền lãi chậm trả đối với tiền cọc tính từ ngày 28/12/2018 đến ngày 17/08/2022 là 3.320.000.000 đồng (ba tỷ ba trăm hai mươi triệu đồng).
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần V về việc yêu cầu Công ty TNHH H phải thanh toán phạt do vi phạm hợp đồng là 660.096.948 đồng (Sáu trăm sáu mươi triệu không trăm chín mươi sáu nghìn chín trăm bốn mươi tám) đồng.
2./ Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty TNHH H: Buộc Công ty Cổ phần V phải mất khoản tiền đã đặt cọc là 10.000.000.000đ (Mười tỷ đồng) cho Công ty H.
Tòa án phúc thẩm nhận định:
Ngày 13/12/2017, Công ty TNHH H và Công ty Cổ phần V thoả thuận ký hợp đồng dịch vụ tiếp thị và phân phối độc quyền số 01/2017/HĐ-TT&PP của dự án chung cư Hoa Phượng tại địa chỉ số 34/1A Quốc lộ 1A, Phường Thới An, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung của hợp đồng thể hiện nguyên đơn Công ty V được bị đơn Công ty H giao thực hiện công việc tiếp thị và phân phối độc quyền sản phẩm căn hộ thuộc dự án căn hộ nhà ở xã hội tại địa điểm như đã nêu trên.
– Căn cứ vào Hợp đồng môi giới số 40/HĐMG-SLK/VH- CT ngày 25/11/2017 được ký kết giữa Công ty V và Công ty TNHH C về việc môi giới dự án Khu chung cư nhà ở xã hội Hoa Phượng, đính kèm theo Hợp đồng môi giới trên là Phụ lục số 01 ngày 25/11/2017; Hợp đồng môi giới số 30/HĐMG- SLK/VH- PV ngày 13/4/2017 được ký kết giữa Công ty V và Công ty TNHH Đầu tư PV (PV INVEST) về việc môi giới dự án Khu chung cư nhà ở xã hội Hoa Phượng, đính kèm theo hợp đồng môi giới trên Phụ lục số 01 ngày 13/4/2017, Phụ lục số 02 ngày 14/01/2018; Phục lục số 3 ngày 01/7/2018.
Nội dung hai hợp đồng nêu trên thể hiện nguyên đơn đã giao cho bên thứ ba là Công ty TNHH C và Công ty TNHH Đầu tư PV để hai công ty này nhận cung cấp dịch vụ môi giới bất động sản của dự án chung cư Hoa Phượng. Việc nguyên đơn giao lại quyền tiếp thị và bán căn hộ như trên đã vi phạm hợp đồng tại mục 2 Điều 8 của hợp đồng quy định về nghĩa vụ của Công ty V
– Căn cứ các Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư số 1011/2018/HĐ- CCHP/Zen Tower được ký kết giữa Công ty H và ông bà Phạm Ngọc D, Nguyễn Thị Thanh T, Phiếu thu ngày 07/02/2018, Biên bản ghi nhận sự việc vào ngày 16/3/2019 giữa Công ty H và bà Nguyễn Thị Thanh T về việc phản ánh Công ty V thu thêm tiền tư vấn, giới thiệu mua căn hộ; Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư số 1120/2018/HĐ-CCHP/Zen Tower được ký kết giữa Công ty H và ông bà Trần Đức T, Vương Thị Bé H, Phiếu thu ngày 28/02/2018, Biên bản ghi nhận sự việc vào ngày 10/01/2019 giữa Công ty H và bà Vương Thị Bé H về việc phản ánh Công ty V thu thêm tiền tư vấn, giới thiệu mua căn hộ;
Các hợp đồng và phiếu thu nêu trên thể hiện nguyên đơn và Công ty C đã thu thêm phí tư vấn trực tiếp từ khách hàng nên đã vi phạm hợp đồng được quy định tại mục 2 Điều 9 về cam kết của bên B (Công ty V) như sau: “2.6. Không được đứng tên ký kết hợp đồng góp vốn hoặc mua bán với khách hàng hay thay mặt bên A trong bất kỳ hợp đồng hay thỏa thuận nào, và không được nhận tiền trực tiếp từ khách hàng hay bất kỳ hình thức nào khác (ngoài khoản bên B thu hộ tiền đặt cọc, tiền giữ chỗ)”.
Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc đề nghị Toà án tuyên buộc nguyên đơn mất toàn bộ số tiền đặt cọc 10.000.000.000 đồng và số tiền này thuộc về bị đơn là có căn cứ và đúng theo sự thoả thuận của các bên tại mục 3 Điều 3 của hợp đồng “3.1 Khi bên B thực hiện công việc không đúng thời hạn theo từng đợt tiến độ mà bên B tiếp thị và phân phối nêu trên, vi phạm một trong những điều khoản, nghĩa vụ tại hợp đồng này thì bên B bị mất toàn bộ khoản tiền đặt cọc, tiền đặt cọc thuộc về Bên A”.
Do nguyên đơn là bên vi phạm hợp đồng về các điều khoản bảo mật thông tin và các cam kết về nghĩa vụ của bên B của Hợp đồng dịch vụ tiếp thị và phân phối độc quyền số 01/2017/HĐ-TT&PP ngày 13/02/2017 nên Toà án Quận S không chấp nhận các yêu cầu về việc buộc trả tiền đặt cọc, tiền lãi phát sinh do chậm thanh toán là có căn cứ.
Tòa án phúc thẩm tuyên:
[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần V. Buộc Công ty TNHH H phải thanh toán cho Công ty Cổ phần V số tiền phí dịch vụ tiếp thị và phân phối còn lại là 4.636.715.236 đồng và tiền lãi chậm thanh toán đối với tiền phí tiếp thị và phân phối, tính từ ngày 28/12/2018 đến ngày 17/08/2022 là 3.078.778.917 đồng, tổng cộng là 7.715.494.153 đồng.
[2] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần V về việc yêu cầu Công ty TNHH H phải hoàn trả lại số tiền đặt cọc 5.000.000.000 (năm tỷ đồng) và tiền lãi chậm trả đối với tiền cọc tính từ ngày 28/12/2018 đến ngày 17/08/2022 là 3.320.000.000 (ba tỷ ba trăm hai mươi triệu) đồng.
[3] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần V về việc yêu cầu Công ty TNHH H phải thanh toán phạt do vi phạm hợp đồng là 660.096.948 (Sáu trăm sáu mươi triệu, không trăm chín mươi sáu nghìn, chín trăm bốn mươi tám) đồng.
[4] Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty TNHH H: Buộc Công ty Cổ phần V phải mất khoản tiền đã đặt cọc là 10.000.000.000 (mười tỷ) đồng cho Công ty H. |