| Bản án số: 49/2019/HSST ngày 26/09/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc
Về: “Tội tham ô tài sản, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng và vi phạm quy định kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”
Nội dung:
Trong quá trình làm chủ tịch UBND xã B từ 2011 đến hết tháng 06/2016 Nguyễn Văn P đã buông lỏng công tác quản lý tài chính, hàng tháng, quý, năm không tổ chức kiểm tra quỹ tiền mặt, không kiểm tra việc thu chi và thanh quyết toán ngân sách xã. Nguyễn Thị K thủ quỹ ngân sách xã thực hiện sự chỉ đạo của Chủ tịch UBND xã và kế toán để cho việc cán bộ, kế toán xã tạm ứng, vay, chi tiền quỹ sai nguyên tắc tài chính, không có phiếu tạm ứng, không viết phiếu chi và để cho Trần Văn T là công chức Tài chính – Kế toán UBND xã B tự điều hành quỹ tiền mặt của UBND xã B, chi sai nguyên tắc tài chính, không đúng các mục, tiểu mục theo dự toán được duyệt, chi nhiều khoản không thuộc danh mục chi như: Chi tiếp khách, chi hỗ trợ các đoàn thể, chi nghỉ mát, du lịch, lễ chùa…và chi tiêu cá nhân từ tháng 04/2012 đến 31/12/2016 (tính đến thời điểm UBND xã B đã duyệt quyết toán, năm 2017 và năm 2018 chưa phê duyệt quyết toán), sau đó T hợp thức quyết toán các khoản chi như dự toán được duyệt gây thiệt hại nghiêm trọng với số tiền là 2.390.381.100đ (gồm: tiền lương, phụ cấp của cán bộ xã tổng số tiền 953.529.900đ, tiền hỗ trợ bảo vệ đất trồng lúa cho dân là: 486.851.200đ, tiền nợ ông Chu Văn A8 để trả tiền giải phóng mặt bằng là: 950.000.000đ) và Trần Văn T đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt số tiền do mình quản lý là: 139.325.000đ.
Tòa án sơ thẩm nhận định:
– Hành vi của Trần Văn T phạm vào các tội “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại khoản 3 Điều 221 và tội “Tham ô tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 353 của Bộ luật hình sự năm 2015.
– Nguyễn Văn P là Chủ tịch UBND xã B, chủ tài khoản của UBND xã B, là người được giao quản lý, điều hành ngân sách của UBND xã B. Tuy nhiên, Nguyễn Văn P đã giao lại cho kế toán là Trần Văn T thay mặt điều hành quỹ tiền mặt mà không kiểm tra hay giám sát. Hành vi thiếu trách nhiệm của Nguyễn Văn P gây hậu quả không có tiền để trả lương, phụ cấp cho cán bộ xã số tiền 580.713.400đ đã phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại khoản 2 Điều 360 của Bộ luật hình sự 2015.
– Nguyễn Thị K là thủ quỹ của UBND xã B, được giao nhiệm vụ quản lý quỹ tiền mặt của UBND xã B, biết Trần Văn T dùng một phần các khoản tiền này sử dụng chi các khoản khác không nằm trong dự toán, không có phiếu chi, phiếu tạm ứng nhưng vẫn chấp hành, xuất quỹ theo sự chỉ đạo của Trần Văn T. Số thực tế còn thiệt hại mà Nguyễn Thị K phải chịu trách nhiệm hình sự là: 712.777.600đ. Hành vi thiếu trách nhiệm của Nguyễn Thị K phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại Khoản 2 Điều 360 của Bộ luật hình sự 2015.
– Đối với bị cáo Trần Văn T, tuy rằng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng chỉ có thể phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt mới có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa tội phạm, như vậy cũng đã thể hiện sự khoan hồng sâu sắc của pháp luật đối với bị cáo.
– Bị cáo Nguyễn Văn P bị cáo là người có nhiều thành tích trong quá trình công tác được khen thưởng nên cần được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, với vai trò là chủ tài khoản nhưng bị cáo đã buông lỏng quản lý dẫn đến thất thoát tài sản do đó cần phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để răn đe và phòng ngừa tội phạm, phục vụ tốt công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.
– Nguyễn Thị K , xét thấy, bị cáo chỉ là người thừa hành sự chỉ đạo của chủ tài khoản và của kế toán, không được hưởng lợi gì từ những khoản tiền mà T làm thất thoát. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên chỉ cần phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ để giáo dục bị cáo thành người có ích, đảm bảo chính sách hậu phương quân đội và không ảnh hưởng đến công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.
– Trách nhiệm bồi thường phải do T gánh chịu, cho nên đề nghị của người bào chữa không được chấp nhận, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa.
– Như vậy cần buộc Trần Văn T phải bồi thường cho UBND xã B, huyện Y số tiền tham ô là 139.325.000đ, xác nhận đã nộp đủ.
– Buộc Trần Văn T phải bồi thường cho UBND xã B, huyện Y số tiền 2.390.381.100đ, xác nhận bị cáo đã bồi thường được 727.603.500đ, bị cáo P và bị cáo K tự nguyện cùng T bồi thường 130.000.000đ, số tiền còn phải bồi thường tiếp là 1.532.777.600đ (Là các khoản chi lương và phụ cấp và khoản tiền nợ của ông Chu Văn A8).
Tòa án sơ thẩm tuyên:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tham ô tài sản” và tội “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”; Bị cáo Nguyễn Văn P và Nguyễn Thị K phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
[1] Phạt Trần Văn T 07 năm tù về tội “Tham ô tài sản” và 10 năm tù về tội “Vi phạm về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”. Tổng hợp hình phạt, buộc Trần Văn T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 17 (Mười bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 06/4/2018.
Phạt Nguyễn Văn P 04 năm 06 tháng tù, tổng hợp hình phạt 06 năm 06 tháng tù của Bản án số: 25/2019/HSST ngày 24/5/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 11 (Mười một) năm tù. Được trừ thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án số 25/2019/HSST và thời gian tạm giam từ ngày 18/4/2018 đến ngày 17/8/2018.
Phạt Nguyễn Thị K 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm.
[2] Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
– Buộc Trần Văn T phải bồi thường cho Uỷ ban nhân dân xã B, huyện Y số tiền tham ô là 139.325.000đồng (Một trăm ba mươi chín triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng), xác nhận đã nộp đủ.
– Buộc Trần Văn T phải bồi thường cho Uỷ ban nhân dân xã B, huyện Y số tiền 2.390.381.100đ, xác nhận bị cáo đã bồi thường được 727.603.500đ, bị cáo P và bị cáo K tự nguyện cùng T bồi thường 130.000.000đ, số tiền còn phải bồi thường tiếp là 1.532.777.600đ (Một tỷ năm trăm ba mươi hai triệu bảy trăm bảy mươi bảy nghìn sáu trăm đồng).
Trả lại cho Trần Văn T 01 điện T di động Iphone nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án. (Có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09 tháng 6 năm 2019 giữa Công an tỉnh Vĩnh Phúc và Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc).
[3] Án phí: Các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Văn P, Nguyễn Thị K mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Trần Văn T phải chịu 57.983.000đ (Năm mươi bảy triệu chín trăm tám mươi ba nghìn đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự. |