| Quyết định Giám đốc thẩm số: 19/2021/DS-GĐT ngày 29/04/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
Về việc: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”
Tóm tắt nội dung vụ án:
Cụ Tôn Thất S sống chung cụ Đoàn Thị H năm 1945 và có 2 con chung là ông Tôn Thất Th (sinh năm 1948, là anh, tên thường gọi: N) và ông Tôn Thất Th1 (sinh năm 1953, là em). Năm 1984 cụ S chết. Năm 1987 vợ chồng ông Tôn Thất Th1 (em) và vợ là bà Nguyễn Thị H1 làm một ngôi nhà ở trên đất, ông Tôn Thất Th (anh) biết nhưng chỉ đồng ý cho làm nhà ở tạm trên đất. Năm 2000, cụ Đoàn Thị H được UBND huyện H (nay là thị xã H) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 64, tờ bản đồ số 2 diện tích 1.468m2; còn ông Tôn Thất Th1 (em) kê khai, được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với thửa đất số 64-1, tờ bản đồ số 2, diện tích 292m2 (sau khi trừ lộ giới đường Quốc lộ 49). Cụ H chết ngày 20/01/2005, ngày 19/01/2017 ông Tôn Thất Th (anh) khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật di sản của vợ chồng cụ S, cụ H là 2.566,2m2 đất (theo đo đạc hiện trạng thực tế) tại thôn C, xã B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, yêu cầu chia đôi đất theo chiều dài mặt đường Quốc lộ 49, cho ông Th1 (em) và ông Th (anh). Tuy nhiên, bị đơn là ông Tôn Thất Th1 (em) không đồng ý với với đơn khởi kiện của ông Th (anh) vì bị đơn đã đăng ký kê khai theo Bản đồ năm 2005 là thửa đất số 126, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.049,7m2 (đo thực tế là 994m2 ) và cho rằng thửa đất số 127, tờ bản đồ số 4, theo Bản đồ năm 2005 thì cha mẹ để vợ chồng bị đơn thờ cúng tổ tiên. Như vậy, toàn bộ nhà đất (hiện nay là hai thửa số 126 và số 127) đều thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bị đơn.
Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:
1. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu chia dỉ sản là ngôi nhà cấp 4 do ông Tôn Thất S và bà Đoàn Thị H tạo lập.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tôn Thất Th (Tên gọi khác: N).
* Công nhận diện tích đất 2.566,2m2 có giới cận:…là di sản thừa kế của ông Tôn Thất S và bà Đoàn Thị H.
* Di sản thừa kế được chia như sau:
+ Trích công sức quản lý, bảo quản, tôn tạo di sản thừa kế, ông Tôn Thất Th1 và bà Nguyễn Thị H1 được hưởng là 513,24m2 , trong đó 80m2 đất ở.
+ Phần diện tích đất ông Tôn Thất Th1 được hưởng là 821,184 m2 .
+ Phần diện tích đất ông Tôn Thất Th (Tên gọi khác: N) được hưởng là 821,184m2
+ Phần diện tích đất ông Trần Văn H, ông Trần Văn M, bà Trần Thị H, bà Trần Thị Mỹ Ch, ông Trần Văn L, ông Trần Văn Đ và bà Trần Thị Xuân M được hưỏng là 410,592m2 .
* Ghi nhận sự tự nguyện tặng cho ông Tôn Thất Th
* Ông Tôn Thất Th (Tên gọi khác: N) và ông Tôn Thất Th1 được nhận phần đất như sau (Có bản vẽ kèm theo).
+ Ồng Tôn Thất Th (Tên gọi khác: N) được quyền sử dụng 1.231,8m2 , trong đó có 192m2 đất ở. Vị trí thửa đất có ký hiệu trong bản vẽ là A, có giới cận như sau:… Tọa lạc tại Thôn C, xã B, Thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
+ Ông Tôn Thất Th1 được quyền sử dụng 1.334,4m2 , trong đó có 208m2 đất ở (Phần đất này bao gồm cả phần công sức ông Th1 và bà H1 được hưởng). Vị trí thửa đất có ký hiệu trong bản vẽ là B, có giới cận như sau:… Tọa lạc tại Thôn C, xã B, Thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
* Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự thống nhất cây cối và ngôi nhà cấp 4 do ông Tôn Thất S và Đoàn Thị H tạo lập gắn liền trên phần đất của ai được nhận, người đó được quyền sở hữu, không yêu cầu Tòa án giải quyết… ”
Ngày 10/12/2019 ông Tôn Thất Th (anh) kháng cáo cho rằng: (i). Tòa án cấp sơ thẩm trích công sức quản lý, bảo quản, tôn tạo di sản cho ông Th1 (em) 20% tổng diện tích đất cha mẹ để lại (513,24m2 đất) là quá nhiều, Ông chỉ đồng ý trích từ 3% đến 5%; (ii). Tòa án cấp sơ thẩm giao hiện vật cho ông Th1 (em) kích thước đất theo mặt tiền đường Quốc lộ 49 quá nhiều làm thiệt hại quyền lợi của Ông và các thừa kế khác.
Ngày 12/12/2019 ông Tôn Thất Th1 (em) kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm công nhận vợ chồng ông Th1 (em) có quyền sử dụng thửa đất 64-1 vì đã được cấp Giấy chứng nhận (sau đó bị hủy); công nhận giá trị Di chúc cụ H lập ngày 23/11/2004 để cho vợ chồng ông Th1 (em) được hưởng phần tài sản của cụ H trong thửa đất 64.
Tòa án cấp phúc thẩm tuyên:
Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Tôn Thất Th1 (N), không chấp nhận kháng cáo của ông Tôn Thất Th1, sửa một phần bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã H:
1. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu chia di sản là ngôi nhà cấp 4 do ông Tôn Thất S và bà Đoàn Thị Hưòng tạo lập.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tôn Thất Th (Tên gọi khác: N) chia di sản thừa kế của ông Tôn Thất S và bà Đoàn Thị H để lại.
Xác định diện tích đất 2.560,2m2 có giới cận:.,.là di sản thừa kế của ông Tôn Thất S và bà Đoàn Thị H.
Di sản thừa kế được chia như sau:
Trích công sức quản lý, bảo quản, tôn tạo di sản thừa kế cho ông Tôn Thất Th1 và bà Nguyễn Thị H1 được hưởng là 128,31m2 .
+ Phần diện tích đất ông Tôn Thất Th1 được hưởng là 975, 16m2 . Phần diện tích đất ông Tôn Thất Th (Tên gọi khác: N) được hưởng là 975,16m2 .
+ Phần diện tích đất ông Trần Văn H, ông Trần Văn M, bà Trần Thị H, bà Trần Thị Mỹ Ch, ông Trần Văn L, ông Trần Văn Đ và bà Trần Thị Xuân M được hưởng là 487,58m2.
Ghi nhận sự tự nguyện tặng cho ông Tôn Thất Th (Tên gọi khác: N) phần di sản thừa kế 487,58m2 được hưởng của ông Trần Văn H, ông Trần Văn M, bà Trần Thị H, bà Trần Thị Mỹ Ch, ông Trần Văn L, ông Trần Văn Đ và bà Trần Thị Xuân M.
Ông Tôn Thất Th (Tên gọi khác: N) và ông Tôn Thất Th1 được nhận phần đất như sau (Có bản vẽ kèm theo). Ông Tôn Thất Th (Tên gọi khác: N) được quyền sử dụng 1.462,74 m2 (bao gồm cả phần thừa kế khác tặng cho) thửa đất có ký hiệu trong bản vẽ là A, có giới cận như sau: …Tọa lạc tại Thôn C, xã B, Thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
+ Ông Tôn Thất Th1 được quyền sử dụng 1.103,47m2 (bao gồm cả phần công sức ông Th1 và bà H1 được hưởng 5% của tổng diện tích đất là di sản thừa kế).
Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự thống nhất cây cối và ngôi nhà cấp 4 do ông Tôn Thất S và Đoàn Thị H tạo lập gắn liền trên phần đất của ai được nhận, người đó được quyền sở hữu…”
Ngày 16/7/2020, bị đơn ông Tôn Thất Th1 (em) có Đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.
Tòa án cấp giám đốc thẩm nhận định:
Xét, thửa đất số 64, tờ bản đồ số 2, tờ Bản đồ giải thửa có xác nhận của Phòng Nông Lâm Ngư thành phố năm 1990, khi cụ S còn sống thì vợ chồng ông Tôn Thất Th1 (em) vẫn sống chung cùng Cụ S và Cụ H, hai Cụ chưa cho vợ chồng ông Th1 (em) đất để làm nhà ra ở riêng. Cụ S chết không để lại di chúc nên di sản của cụ S do 5 đồng thừa kế của cụ S gồm cụ Nguyễn Thị V, bà Tôn Nữ Thị B, cụ Đoàn Thị H, ông Tôn Thất Th (anh) và ông Tôn Thất Th1 (em) được hưởng. Như vậy, năm 1987 vợ chồng ông Tôn Thất Th1 (em) làm nhà ra ở riêng thì chỉ mình cụ H (nếu có) đồng ý mà chưa có sự đồng ý của các thừa kế khác vì những người thừa kế thế vị của cụ V, bà B vẫn đề nghị chia thừa kế di sản của cụ S nhưng nhường kỷ phần cho ông Th1 (anh), còn ông Th (anh) thì trình bày năm 1987 có biết việc vợ chồng ông Th1 (em) làm nhà ra ở riêng nhưng chỉ đồng ý cho ở tạm chứ không đồng ý cho luôn đất.
Xét hiệu lực của Di chúc đề ngày 23/11/2004 có dấu điểm chỉ dưới ghi tên cụ “Đoàn Thị H”, có nội dung thửa đất số 127, tờ bản đồ số 4, theo Bản đồ năm 2005 Cụ H để cho vợ chồng ông Th1 để thờ cúng tổ tiên. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm xét thấy: Thời điểm lập Di chúc cụ S đã chết, nhà đất tại thửa đất số 64 là tài sản chung vợ chồng nhưng mình cụ H định đoạt (cả 3 sào đất) là vượt quá quyền về tài sản của cụ H; Những người làm chứng đều xác nhận cụ H không biết chữ (cụ H chỉ điểm chỉ vào Di chúc), trong khi Khoản 3 Điều 655 Bộ luật dân sự 1995 quy định:“Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn”. Vì các lý do trên, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định Di chúc không hợp pháp nên không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Tôn Thất Th1 (em) yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ Đoàn Thị H theo Di chúc này là có cơ sở, đúng pháp luật.
Tòa án cấp giám đốc thẩm tuyên:
Không chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, giữ nguyên Bản án dân sự phúc thẩm. |