|
Bản án phúc thẩm số: 39/2022/DS-PT ngày 09/03/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Về việc: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.
Tóm tắt nội dung vụ án:
Ông Lê Tất A có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Lê Thị A1, anh Nguyễn Xuân A2, anh Nguyễn Hữu A3 trả lại cho ông 1.347m2 đất; buộc bà Lưu Thị C8 phải trả lại cho ông 42m2 đất; hủy GCNQSD đất mà UBND huyện B1 đã cấp cho bà Lê Thị A1, và các GCNQSD đất mà UBND quận B1 đã cấp cho 3 anh Nguyễn Xuân A2, anh Nguyễn Hữu A3 và chị Nguyễn Thị Mỹ A4, bà Lưu Thị C8. Yêu cầu bà A1 phải trả lại cho ông số tiền mà bà A1 đã bán 03 sào đất của bố mẹ cho bà Vũ Thị C6 theo giá trị hiện tại là 21,6 tỷ đồng. Bởi vì, diện tích đất mặc dù bà C6 mua của cụ C, nhưng bà A1 là người nhận tiền nên phải trả lại tiền cho cụ C; do cụ C đã chết nên ông là người được nhận số tiền này vì bà A1 đã bán đất của cụ C nhiều lần rồi.
Ngày 22/02/2021, ông A thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện là yêu cầu chia tài sản thừa kế diện tích đất còn lại của cụ C và cụ C1 hiện nay bà A1 và các con bà A1 đã được UBND quận B1 cấp GCNQSD đất. Rút yêu cầu khởi kiện Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng trao cho ông 10 tỷ 800 triệu đồng từ bà Lê Thị A1 và cấp quyền sử dụng đất 1.347m2 + 42m2 cho ông; ông Giữ nguyên các yêu cầu còn lại. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Lê Tất A yêu cầu Tòa án cấp cho ông diện tích đất 42m2.
Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Tất A; tài sản thừa kế của cụ Lê Tất C và Trần Thị C1 là diện tích đất 1.416m2 tại khu B8, phường B, quận B1, thành phố Hải Phòng.
2. Xác định ngõ đi chung giữa các thửa đất của ông Lê Tất A, anh Nguyễn Xuân A2, chị Nguyễn Thị Mỹ A4 và anh Nguyễn Hữu A3 là 90m2 (có sơ đồ, mốc giới kèm theo bản án).
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tất A về việc yêu cầu bà Lê Thị A1 phải trả cho ông Lê Tất A 10 tỷ 800 triệu đồng là tiền của cụ C đã bán đất cho bà Vũ Thị C6 và ông Lê Hữu C7.
4. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tất A về việc:
4.1. Yêu cầu bà Lưu Thị C8 phải trả lại cho ông A diện tích 642m2 đất và hủy các GCNQSD đất của UBND quận B1 đã cấp cho bà Lưu Thị C8, anh Nguyễn Ngọc C10, anh Nguyễn Ngọc C9, chị Nguyễn Thị Thu C11.
4.2. Yêu cầu Tòa án thành phố Hải Phòng trao 10 tỷ 800 triệu đồng từ bà Lê Thị A1 cho ông Lê Tất A và cấp cho ông Lê Tất A 1.347m2 + 42m2 đất.
5. Cây cối, hoa màu trên phần đất của ai thì người đó được hưởng, không phải thanh toán lại giá trị cho nhau. N.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/3/2021, các ngày 16, 24/3/2021 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng nhận được các đơn kháng cáo của nguyên đơn là ông Lê Tất A.
Tòa án cấp phúc thẩm nhận định:
Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; đối chiếu với các tài liệu, căn cứ đơn xin xác nhận quê quán, chỗ ở trước khi đi nước ngoài của ông Lê Tất A được UBND phường B xác nhận ngày 12/12/2010, thể hiện ông A có bố là Lê Tất C và mẹ là Trần Thị C1; có cở sở căn cứ xác định hành thừa kế thứ nhất của cụ C, cụ C1 là ông Lê Tất A và bà Lê Thị A1.
Xác định phương án chia thừa kế: Do cụ C1, cụ C chết không để lại di chúc để phân chia di sản thừa kế, nên chia di sản thừa kế của hai cụ theo quy định của pháp luật. Cấp sơ thẩm đã xem xét nhận định trích công sức trông coi, gìn giữ, bảo quản, cũng như chăm sóc bố mẹ khi về già bằng 01 kỷ phần chia thừa kế là có căn cứ, đúng quy định theo điểm c khoản 2 Điều 618 Bộ luật dân sự, phù hợp với Án lệ số 05/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Bản án sơ thẩm đã quyết định là có căn cứ.
Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện B1 cấp cho bà Lê Thị A1: Như phân tích đánh giá ở trên diện tích đất 1.347m2 được xác định 10 là di sản thừa kế của cụ Lê Tất C và Trần Thị C1. Đối với các GCNQSD đất mà UBND quận B1 đã cấp cho anh Nguyễn Xuân A2 và anh Nguyễn Hữu A3, chị Nguyễn Thị Mỹ A4. Cấp sơ thẩm lại tuyên giữ nguyên các GCNQSD đất này là vượt quá thẩm quyền của Tòa án, trái với quy định tại Điều 193 Luật tố tụng hành chính, nên cấp phúc thẩm cần sửa lại nội dung này.
Đối với yêu cầu của ông A về việc yêu cầu bà A1 phải trả lại cho ông 10 tỷ 800 triệu đồng. Ông A cho rằng mặc dù cụ C chuyển ngượng quyền sử dụng đất, nhưng bà A1 là người nhận tiền, bà A1 không thừa nhận nội dung này; ngoài lời khai của mình ông A không xuất trình được chứng cứ gì để chứng minh cho yêu cầu của mình, nên không có căn cứ để chấp nhận.
Đối với yêu cầu Tòa án cấp cho ông 42m2 đất tại phường B, quận B1, Hải Phòng thì đấy không phải là thẩm quyền của Cơ quan Tòa án theo quy định của Luật đất đai, mà thầm quyền này thuộc cơ quan hành chính Nhà nước, nên cấp sơ thẩm đã không chấp nhận là có căn cứ.
Tòa án cấp phúc thẩm tuyên:
Không chấp nhận kháng cáo của của ông Lê Tất A; sửa Bản án dân sự sơ thẩm; xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Tất A về chia di sản thừa kế của cụ Lê Tất C, cụ Trần Thị C1 và yêu cầu hủy GCNQSD đất số 01494 ngày 20/8/2001 của UBND huyện B1 (nay là UBND quận B1) cấp cho bà Lê Thị A1 đối với diện tích đất 1.347m2.
2. Xác định di sản thừa kế của cụ Lê Tất C và Trần Thị C1 là diện tích đất 1.506m2, trên đất có 01 nhà thờ bằng gỗ diện tích 53,40m2 và 01 nhà cấp 4 diện tích 52,20m2 tại khu B8, phường B, quận B1, thành phố Hải Phòng.
3. Phân chia kỷ phần thừa kế di sản của cụ Lê Tất C và cụ Trần Thị C1.
4. Hủy GCNQSD đất số 01494 ngày 20/8/2001 của UBND huyện B1 (nay là UBND quận B1) thành phố Hải Phòng cấp cho bà Lê Thị A1 đối với diện tích đất 1.347m2.
5. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tất A về việc, yêu cầu bà Lê Thị A1 phải trả cho ông Lê Tất A 10 tỷ 800 triệu đồng là tiền của cụ C đã bán đất cho bà Vũ Thị C6 và ông Lê Hữu C7.
6. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tất A về yêu cầu hủy các GCNQSD đất, gồm: GCNQSD đất số HO 1094, ngày 28/01/2008 của UBND quận B1, thành phố Hải Phòng cấp cho anh Nguyễn Xuân A2 và GCNQSD đất số HO 1095, ngày 28/01/2008 của UBND quận B1, thành phố Hải Phòng cấp cho anh Nguyễn Hữu A3 và chị Nguyễn Thị Mỹ A4.
7. Giữ nguyên các quyết định khác của bản án sơ thẩm. |